Tuổi nghỉ hưu trong luật bình đẳng giới
16:40' 5/10/2006

Vài suy nghĩ về tuổi nghỉ hưu trong luật bình đẳng giới của Nguyễn Hải Dũng - Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội.



             Thời gian gần đây đã có nhiều ý kiến của các tầng lớp nhân dân đóng góp xây dựng dự án Luật bình đẳng giới, sôi nổi nhất, được dư luận quan tâm nhất vẫn là vấn đề độ tuổi nghỉ hưu của lao động nữ nói chung.Xung quanh vấn đề này tôi cũng xin có vài ý kiến trao đổi để mong dự án luật sắp được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ mười thông qua, thực sự đáp ứng được mục đích như tên gọi của luật là “bình đẳng giới”.

Trước hết, xin nói qua về nguyên tắc xây dựng luật. Theo Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) ngày 12 tháng 11 năm 1996 về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống văn bản QPPL quy định: “Văn bản QPPL được ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản trong hệ thống pháp luật”. Tính thống nhất là một phần của nguyên tắc pháp chế XHCN, trong hoạt động xây dựng pháp luật thì các đạo luật phải phù hợp với Hiến pháp, các văn bản QPPL dưới luật phải phù hợp với Hiến pháp và các đạo luật, đồng thời các đạo luật cũng phải tạo nên sự thống nhất với nhau, hạn chế tối đa xung đột pháp luật ngay từ khâu lập pháp. Nói về độ tuổi nghỉ hưu của người lao động nói chung, Bộ luật lao động Điều 145 đã quy định và ngày 29 tháng 6 năm 2006 vừa qua, Quốc hội đã thông qua Luật bảo hiểm xã hội, trong đó Điều 50 khoản 1 điểm a quy định về độ tuổi nghỉ hưu phù hợp với quy định của Bộ luật lao động, theo đó nam nghỉ hưu từ 60 tuổi, nữ từ 55 tuổi. Tại kỳ họp thứ chín Quốc hội khoá XI cũng đã đóng góp ý kiến lần đầu cho dự án Luật bình đẳng giới và độ tuổi nghỉ hưu của nam giới và phụ nữ cũng được thảo luận sôi nổi, nhưng chưa đi đến thống nhất. Tuy nhiên, hai ban soạn thảo hai dự án luật BHXH và bình đẳng giới có lẽ đã không đạt được một sự nhất trí về độ tuổi nghỉ hưu của hai giới nên "đường ai nấy đi", vì thế cho đến nay vấn đề này vẫn là chủ đề tranh luận của dư luận và sắp tới là trên nghị trường. Luật BHXH đã thống nhất với Bộ luật lao động, vậy tiếp theo Luật bình đẳng giới có nên khác đi không hay nên tìm con đường khác mềm dẻo hơn. Tuy Điều 80 Luật ban hành văn bản QPPL có quy định văn bản ban hành sau sẽ được áp dụng khi cùng quy định về một vấn đề, nhưng hai luật này (BHXH và bình đẳng giới) được xây dựng cùng một thời điểm mà lại mâu thuẩn với nhau thì cử tri sẽ đánh giá thế nào về hoạt động lập pháp của Quốc hội. Trong cuốn sách "Pháp luật BHXH của một số nước trên thế giới", NXB Tư pháp ấn hành năm 2005 cho thấy đa số các nước đều quy định một độ tuổi nghỉ hưu chung đối với nam giới và phụ nữ. Trung Quốc là nước hiện quy định như Luật BHXH của ta nhưng cũng đang điều chỉnh độ tuổi nghỉ hưu của cán bộ nữ ở một vài chức danh lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu khoa học. Điều đó cho thấy xu hướng của pháp luật thế giới là đảm bảo bình đẳng nam nữ trong lĩnh vực lao động ngày càng được ghi nhận. Tại Tờ trình của Ban chấp hành Hội LHPN VN về dự án Luật bình đẳng giới cũng nói về việc tham khảo kinh nghiêm của Trung Quốc là Điều 27 Luật bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ, sửa đổi năm 2005 quy định "Khi thực hiện chế độ nghỉ hưu của Nhà nước, nghiêm cấm hành vi phân biệt đối với phụ nữ vì lý do giới tính". Vậy dự án Luật bình đẳng giới của ta có nên học tập kinh nghiệm này, nếu phụ nữ Việt Nam có đủ điều kiện để tham gia lao động, đóng BHXH đến tuổi bằng với nam giới thì cần sửa đổi quy định trong Bộ luật lao động và Luật BHXH mới ban hành, là đã thể hiện được từng bước việc bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động. Do đó, qua kinh nghiệm của Trung Quốc có lẽ Luật bình đẳng giới cũng quy định tương tự như Điều 27 nói trên.

Tiếp theo, chúng ta xem Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) quy định về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động như thế nào. Điều 11.1.e quy định: "Các nước tham gia công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xoá bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực việc làm nhằm đảm bảo những quyền như nhau trên cơ sở bình đẳng nam nữ, đặc biệt là:...Quyền được hưởng bảo hiểm xã hội, đặc biệt trong các trường hợp hưu trí...". Nhà nước ta đã có nhiều chính sách nhằm giải phóng phụ nữ nói chung và đảm bảo quyền lao động, nghỉ ngơi, thụ hưởng các chính sách xã hội của phụ nữ, trong đó có quyền hưởng BHXH và một trong những chế độ của BHXH là chế độ hưu trí. Chế độ hưu trí hiện hành căn cứ vào tuổi nghỉ hưu và thời gian tham gia đóng BHXH của người lao động nói chung, phụ nữ nghỉ hưu sớm hơn nam giới 5 năm.

Theo Báo cáo ghép lần thứ 5 và thứ 6 của Việt Nam trước Uỷ ban CEDAW về tình hình thực hiện Công ước tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2003 thì: năm 2002, lực lượng lao động trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động là 44,73 triệu người (chiếm trên 56,1% dân số) và lao động nữ chiếm 50,6%. Số lao động đang hoạt động trong các ngành kinh tế quốc dân tăng từ 36,7 triệu năm 2000 lên trên 38,7 triệu năm 2002, 41,2 năm 2003 và 50,9 năm 2004, trong đó nữ chiếm trên 50%.

Chỉ số phát triển giới (GDI) của Việt Nam là 0,687 (xếp thứ 89/144 nước), thuộc nhóm có thành tựu tốt nhất khu vực Đông Nam á-Thái Bình Dương.

 Đánh giá thực hiện Điều 4 Công ước, báo cáo nhận xét về tình hình thực hiện các biện pháp đặc biệt nhằm thúc đẩy bình đẳng nam nữ: Một số chính sách như lao động nữ nghỉ hưu ở tuổi 55, quy định danh mục các ngành nghề cấm và hạn chế đối với lao động nữ đã gây thiệt thòi cho một bộ phận lao động nữ.

Phần đánh giá thực hiện Điều 11 Công ước CEDAW, báo cáo viết: "Về tuổi nghỉ hưu của nam và nữ: Báo cáo ghép lần thứ 3 và 4 đã đề cập đến sự chênh lệch tuổi nghỉ hưu giữa lao động nam và nữ, đồng thời qua quá trình thực hiện chính sách hưu trí đã có một số ý kiến đề nghị xem xét, điều chỉnh cho phù hợp. Để đáp ứng nguyện vọng trên, Chính phủ đã giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức nghiên cứu, khảo sát về tuổi nghỉ hưu của lao động nữ. Kết quả tổng hợp cho thấy còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này và trên 70% số người được hỏi ý kiến cho rằng quy định tuổi hưu như hiện nay là hợp lý. Do vậy, Quốc hội vẫn quyết định giữ nguyên tuổi nghỉ hưu của nữ là 55 và nam là 60 trong lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động vừa qua. Tuy nhiên, số năm đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính tuổi nghỉ hưu đã được giảm xuống 25 năm đối với nữ (trước đây quy định là 30 năm) cho phù hợp với tuổi nghỉ hưu.

Trước mắt, để tạo điều kiện cho những người có năng lực, trình độ tiếp tục cống hiến, Chính phủ đã ban hành Nghị định 71/NĐ-CP ngày 23/11/2000 quy định việc kéo dài thời gian công tác của cán bộ, công chức đến độ tuổi nghỉ hưu. Theo đó, các chuyên gia cao cấp, tiến sĩ khoa học, giáo sư, phó giáo sư không phân biệt nam nữ, được kéo dài thời gian công tác từ 1 đến 5 năm nếu cơ quan, tổ chức thực sự có nhu cầu, người lao động tự nguyện và có đủ sức khoẻ để làm việc".

Như thế, với hơn 26 triệu lao động nữ thì một bộ phận bị thiệt thòi là bao nhiêu người, hoạt động trong những lĩnh vực nào, có đại diện đầy đủ cho cơ cấu lao động của nước ta hay không. Thực tế Nhà nước cũng đã có chính sách động viên, khuyến khích, tạo điều kiện cho cán bộ, công chức mà trong đó có phụ nữ được kéo dài thời gian công tác như quy định của Nghị định 71. Theo tôi, quy định như thế là uyển chuyển, không làm ảnh hưởng đến phần lớn lao động nữ đang trực tiếp làm việc trên công trường, nhà máy, hầm mỏ...

Mặt khác, việc quy định tuổi nghỉ hưu cho phụ nữ cũng cần tính đến thể trạng của người Việt Nam, điều kiện lao động, trình độ tay nghề. Hiện nay tại sao có đến trên 70% số người được hỏi ý kiến cho rằng quy định tuổi hưu như hiện nay là hợp lý. Tôi cho rằng có một nguyên nhân và cũng được nói rất nhiều trên phương tiện thông tin đại chúng, đó là đến trên 50 tuổi người phụ nữ đã mệt mỏi, sức khoẻ giảm sút, nguyện vọng muốn quan tâm, chăm sóc gia đình và nghỉ ngơi. Với tình trạng sức khoẻ và tâm lý như thế thì có đảm bảo năng suất lao động và chất lượng sản phẩm đạt yêu cầu được không, điều đó làm cho người sử dụng lao động sẽ không còn mặn mà khi sử dụng đối tượng lao động như thế. Hậu quả rất dễ xảy ra tranh chấp lao động, xã hội lại phải tốn tiền của, thời gian để giải quyết. Điều 11.3 Công ước CEDAW ghi rõ: "Các biện pháp pháp luật liên quan tới những vấn đề nêu trong điều khoản này phải được đánh giá định kỳ trên cơ sở kiến thức khoa học - kỹ thuật và phải được sửa đổi, huỷ bỏ hoặc mở rộng nếu cần thiết". Chúng ta đã đánh giá đầy đủ về nhu cầu tăng độ tuổi cho lao động nữ theo quy định của Công ước CEDAW hay chưa. Tôi nghĩ khi chúng ta đã đánh giá được đầy đủ, khách quan, có căn cứ khoa học để tăng độ tuổi thì tỷ lệ người được hỏi ý kiến sẽ không như hiện nay. Vậy nên chăng Luật bình đẳng giới hãy đưa những quy định có tính chất đảm bảo để tăng dần tuổi nghỉ hưu cho lao động nữ (đến khi đủ điều kiện) thì sẽ thuyết phục hơn là quy định một mức cụ thể như dự án, như ở Anh quốc từ năm 2010 sẽ tăng dần tuổi nghỉ hưu cho phụ nữ đến 65 tuổi, bằng nam giới, mỗi năm tăng 6 tháng.

Ở một góc độ khác, pháp luật phải thể hiện được ý chí, nguyện vọng của số đông dân cư. Có đồng chí đã khẳng định "phần quyết định sẽ thuộc về quyền lựa chọn của số đông". Hiện nay số đông ý kiến được hỏi (trên 70%) đang đồng tình với phương án giữ nguyên độ tuổi nghỉ hưu, vậy tại sao Ban soạn thảo không thể hiện ý chí của số đông ngay trong dự án mà lại phải đưa ra nhiều phương án như thế. Tôi cho rằng, nguyện vọng tăng tuổi nghỉ hưu cho phụ nữ là chính đáng, đồng thời phù hợp với Công ước CEDAW và pháp luật nhiều nước trên thế giới, nhưng điều kiện của chúng ta hiện nay đã đảm bảo để nam nữ nghỉ hưu cùng tuổi hay chưa, rất nhiều điều cần tiếp tục được lý giải để có thể tăng tuổi nghỉ hưu của phụ nữ cho đến bằng nam giới. Đó là điều kiện lao động, thu nhập có đủ tái đầu tư sức lao động cho mình chưa, hay còn phải bớt ăn, bớt mặc để dành cho con cái, trách nhiệm đối với gia đình, kiến thức và kỹ năng lao động...Để thực hiện được bình đẳng giới thì cũng cần những điều kiện đảm bảo để thực hiện trên thực tế, nếu không sẽ gặp vướng mắc, cản trở không đáng có. Ý kiến cử tri thắc mắc chúng ta xây dựng được nhiều luật nhưng đi vào cuộc sống được bao nhiêu. Nếu chúng ta không thật khách quan khi xây dựng luật thì làm sao cuộc sống chấp nhận được, mà cuối cùng thì lại vẫn phải sửa đổi. Cho nên phương án phù hợp hơn cả là nên quy định trong Luật bình đẳng giới một điều khẳng định sẽ tiến tới nam nữ nghỉ hưu cùng độ tuổi khi đến một mốc nào đó (về thời gian, về điều kiện lao động hay đến một mức thu nhập nhất định của người lao động).

Vì thế Ban soạn thảo dự án Luật bình đẳng giới cần nghiên cứu lại những phương án đã đưa ra, quy định về tuổi nghỉ hưu sao cho hệ thống pháp luật nước ta được thống nhất, phù hợp pháp luật quốc tế và những điều kiện của Việt Nam.

 

                                                                                  

Các tin trước
Các tin tiếp